Giãn cơ thành bụng sau sinh: vì sao tập bụng không thu hẹp được?
Giãn cơ thành bụng là khi đường giữa bụng giãn rộng, không phải thoát vị. Bài viết giải thích cách đo, các ngưỡng đã công bố, tập luyện thay đổi được gì và khi nào mới tính đến phẫu thuật.
Sau sinh, nhiều người thấy bụng vẫn nhô ra ở đường giữa dù cân nặng đã về gần như cũ, và tập bụng mãi không thay đổi. Phần lớn trường hợp đó là giãn cơ thành bụng. Bài viết giải thích cách tình trạng này được đo, điều tập luyện làm được và khi nào mới bàn đến phẫu thuật.
Giãn cơ thành bụng là gì?
Hai khối cơ thẳng bụng nối với nhau ở đường giữa bằng một dải mô liên kết. Khi dải này giãn rộng, hai khối cơ nằm xa nhau hơn và bụng nhô ở đường giữa khi gắng sức. Điểm quan trọng: bao cân của cơ vẫn còn nguyên, nên đây không phải thoát vị thành bụng[1]. Tình trạng này gặp ở tỷ lệ được báo cáo lên đến 66% trong ba tháng cuối thai kỳ, và còn tồn tại ở khoảng 30–60% sau sinh[1]. Không phải ai cũng có triệu chứng; khi có, thường là khó chịu vùng bụng, cảm giác mất vững, đau lưng thấp, đôi khi kèm vấn đề về tiểu tiện[1].
Đo ở đâu, và bao nhiêu thì gọi là giãn?
Khoảng cách giữa hai khối cơ thay đổi theo vị trí đo trên cùng một người, nên con số chỉ có nghĩa khi ghi kèm mức đo. Một tổng quan về kỹ thuật đo bằng siêu âm ghi nhận y văn đã dùng rất nhiều mức khác nhau, từ 2 đến 12 cm trên rốn và 2 đến 4,5 cm dưới rốn, và vì vậy các con số giữa các nghiên cứu không so sánh trực tiếp được; nhóm tác giả đề xuất một bộ mức đo thống nhất và lấy trung bình ba lần đo mỗi vị trí[3]. Cũng tổng quan đó lưu ý cách sờ tay quy ước “hai khoát ngón” tương ứng khoảng 3 cm, nhưng con số này thay đổi giữa những người khám[3].
Một tổng quan khác tập hợp các ngưỡng đang dùng: sờ tay thường lấy mốc từ 2 cm trở lên; phân loại theo khoát ngón xếp dưới 2 khoát là không giãn, 2–3 là nhẹ, 3–4 là trung bình, trên 4 là nặng; đo bằng thước kẹp thì mốc là trên 10 mm ở trên rốn, trên 27 mm tại vòng rốn và trên 9 mm ở dưới rốn[2]. Ở phụ nữ chưa sinh, chiều rộng đường giữa được ghi nhận tối đa khoảng 15 mm ở mũi ức, 22 mm ở 3 cm trên rốn và 16 mm ở 2 cm dưới rốn[2].
Tập luyện thay đổi được gì?
Tập luyện vẫn là bước đầu tiên, thường bắt đầu khoảng 6–8 tuần sau sinh, kèm hướng dẫn tư thế và chăm sóc lưng[1]. Nhưng cần biết giới hạn: một tổng quan hệ thống được dẫn lại kết luận rằng vật lý trị liệu không làm hết giãn khi cơ ở trạng thái nghỉ, mà chỉ giúp giảm khoảng cách ở mức hạn chế khi cơ co[1]. Một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 175 phụ nữ sinh con lần đầu cho thấy chương trình tập 16 tuần không khác nhóm chứng về tỷ lệ giãn cơ ở thời điểm 6 và 12 tháng sau sinh[1].
Các bài tập cũng không tác động giống nhau. Tổng quan về điều trị ghi nhận có bài tập làm hẹp khoảng cách ở phần lớn vị trí đo, trong khi động tác hóp bụng lại làm khoảng cách rộng thêm ở 2 cm dưới rốn trong một nghiên cứu; đến nay chưa có một chương trình tập thống nhất[2]. Phần lớn phụ nữ tự hồi phục một phần trong giai đoạn sớm sau sinh[2].
Khi nào mới bàn đến phẫu thuật?
Hướng chung là điều trị bảo tồn trước, chỉ cân nhắc phẫu thuật khi tập luyện không cải thiện và triệu chứng vẫn còn[1][2]. Về thời điểm, các tác giả đề nghị nếu được thì chờ ít nhất một năm sau sinh vì khả năng tự hồi phục, và có thể hỏi ý kiến bác sĩ ngoại khoa khi triệu chứng còn sau 2–6 tháng điều trị bảo tồn[1]. Hướng mổ được chọn theo mức độ và theo việc có da thừa hay không: khâu khép đường giữa cho mức nhẹ đến trung bình, các kỹ thuật có đặt lưới cho mức trung bình đến nặng, và tạo hình thành bụng khi có da thừa đi kèm[2].
Khi nào cần khám sớm?
Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu nếu khối phồng ở bụng trở nên đau, cứng, không xẹp khi nằm, kèm nôn hoặc bí trung đại tiện.
Hãy đi khám sớm khi xuất hiện một khối phồng khu trú mới ở đường giữa hoặc quanh rốn, khi đau bụng, đau lưng tăng dần, hoặc khi có rò rỉ nước tiểu ảnh hưởng sinh hoạt: những điều này cần được khám, không nên tự tập theo hướng dẫn trên mạng.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, BS An khám và tư vấn. Các phẫu thuật tạo hình thành bụng được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.
Tài liệu tham khảo
- Jessen ML, Öberg S, Rosenberg J. Treatment options for abdominal rectus diastasis. Front Surg. 2019;6:65. doi:10.3389/fsurg.2019.00065
- Radhakrishnan M, Ramamurthy K. Efficacy and challenges in the treatment of diastasis recti abdominis: a scoping review on the current trends and future perspectives. Diagnostics (Basel). 2022;12(9):2044. doi:10.3390/diagnostics12092044
- Opala-Berdzik A, Rudek-Zeprzałka M, Niesporek J, et al. Technical aspects of inter-recti distance measurement with ultrasonographic imaging for physiotherapy purposes: the scoping review. Insights Imaging. 2023;14:92. doi:10.1186/s13244-023-01443-4
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm