Hút mỡ: lấy được bao nhiêu, và giới hạn nằm ở đâu?
Thể tích hút được tính theo cân nặng chứ không theo số lít, và không phải vùng nào cũng hút được. Bài viết giải thích các giới hạn đã công bố, tỷ lệ biến chứng và những điều kỹ thuật này không làm được.
“Hút được bao nhiêu ký?” là câu hỏi hay gặp nhất khi bàn về hút mỡ. Nhưng thể tích lấy ra không phải mục tiêu, và cũng không phải con số tự do. Bài viết giải thích các giới hạn được nêu trong y văn và vì sao bác sĩ dừng lại ở một mức nhất định.
Mỡ nằm ở đâu thì kỹ thuật này với tới?
Lớp mỡ dưới da được chia thành lớp bề mặt và lớp sâu, ngăn nhau bởi một màng mạc mỏng; phần được lấy chủ yếu là lớp sâu, còn lớp bề mặt được giữ lại phần lớn để bề mặt da còn đều.
Mỡ nằm bên trong ổ bụng, sau lớp cân cơ, không thuộc phạm vi của kỹ thuật này. Vì vậy một chiếc bụng to do mỡ nội tạng sẽ không thay đổi nhiều sau hút mỡ, dù lấy ra bao nhiêu đi nữa.
Thể tích được tính theo cân nặng, không theo lít
Một bài đồng thuận đa chuyên khoa đề nghị giới hạn thể tích lấy ra trong khoảng 5–7% cân nặng cơ thể, tính toàn bộ phần trong bình chứa chứ không chỉ phần mỡ nổi; tại Brazil, quy định của hội đồng y khoa đặt mức 7% cân nặng khi có bơm dịch và 5% khi không bơm dịch, kèm giới hạn 40% diện tích bề mặt cơ thể[1]. Chính các tác giả nói rõ con số 7% dựa trên kinh nghiệm chứ chưa dựa trên bằng chứng[1].
Các nghiên cứu cũng không gọi “thể tích lớn” giống nhau: có nơi tính theo lượng mỡ lấy ra, có nơi tính cả dịch bơm vào, nên các con số không so sánh trực tiếp được[4]. Một nghiên cứu hồi cứu trên 121 lượt hút mỡ chi dưới ở người bị phù mỡ lấy mốc trên 5 lít là thể tích lớn, với thể tích trung bình 8,2 lít; kết quả đáng chú ý là tỷ lệ biến chứng ở đó không tương quan với thể tích hút, mà tương quan với tình trạng thiếu máu trước mổ, trong khi thể tích hút tương quan với mức giảm huyết sắc tố (trung bình giảm khoảng 3 g/dL) và với thời gian nằm viện[3]. Đó là một nhóm người bệnh đặc thù, một trung tâm, hồi cứu, nên không suy rộng cho mọi ca; nhưng nó cho thấy vì sao xét nghiệm máu trước mổ quan trọng không kém con số thể tích.
Giới hạn khác: số vùng, thời gian mổ, sức khỏe
Bài đồng thuận nêu trên khuyến nghị giới hạn phần phẫu thuật thẩm mỹ kết hợp trong một thủ thuật và trong khoảng ba giờ, ngừng thuốc lá 6–8 tuần trước mổ, và kiểm tra huyết sắc tố trước mổ[1]. Trong một loạt 60 ca hút mỡ thể tích lớn, phần lớn người bệnh được làm hai vùng trong một lần mổ và nhiều nhất là ba vùng[4].
Số vùng và việc ghép thêm phẫu thuật khác không phải chuyện nhỏ. Một tổng quan hệ thống ghi nhận tỷ lệ thuyên tắc huyết khối là 0,06% ở nhóm hút mỡ đơn thuần (trên 31.010 người bệnh) so với 0,56% khi kết hợp phẫu thuật khác; nhiễm trùng vết mổ 0,1% so với 0,7%; và tụ dịch 2,16% ở nhóm có đặt dẫn lưu so với 9,17% ở nhóm không đặt[2]. Cũng tổng quan đó ghi nhận bề mặt không đều được báo cáo tới khoảng 9% trong một nghiên cứu, và nêu thuyên tắc huyết khối là một trong các nguyên nhân tử vong thường gặp nhất sau hút mỡ[2]. Các số liệu này gộp từ nhiều nghiên cứu khác nhau, cỡ mẫu và cách theo dõi không giống nhau.
Những điều hút mỡ không làm được
Hút mỡ không phải cách giảm cân và không thay thế việc ổn định cân nặng. Lớp mỡ mỏng đi nhưng da không co lại tương ứng, nên da chùng vẫn còn chùng. Bề mặt có thể không đều, nhất là khi can thiệp nhiều vào lớp mỡ bề mặt; trong loạt 60 ca nêu trên, da gồ ghề được ghi nhận ở 20% và tụ dịch ở 15%[4]. Một số trường hợp cần can thiệp chỉnh sửa về sau.
Khi nào cần khám sớm?
Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu nếu sau mổ bạn khó thở, đau ngực, ho ra máu, hoặc một bên bắp chân sưng đau, nóng đỏ: đó có thể là dấu hiệu huyết khối và thuyên tắc phổi. Cũng cần đến ngay khi choáng váng, ngất, tim đập nhanh, da tái.
Hãy báo ngay cho bác sĩ phẫu thuật khi vùng mổ sưng đau tăng dần, chảy dịch đục hoặc có mùi, sốt, hoặc khi một vùng da đổi màu bất thường.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, BS An khám và tư vấn. Các phẫu thuật hút mỡ cơ thể được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.
Tài liệu tham khảo
- Fernandes JW, Miró A, Rocha AAS, Mendonça CT, Franck CL, Itikawa WM. Practical criteria for a safer liposuction: a multidisciplinary approach. Rev Bras Cir Plást. 2017;32(3):454-466. doi:10.5935/2177-1235.2017RBCP0075
- Barros LFL, Teixeira VF, Reis Júnior JAP, Ferraz RA, Araújo DC, Vendramin FS. Complications in liposuction: systematic review. Rev Bras Cir Plást. 2023;38(1):e0641. doi:10.5935/2177-1235.2023RBCP0641-EN
- Flores T, Kremsner B, Schön J, Riedl J, Sabitzer H, Glisic C, et al. Lipedema: complications in high-volume liposuction are linked to preoperative anemia. J Clin Med. 2024;13(24):7779. doi:10.3390/jcm13247779
- Saleh Y, El-Oteify M, Abd-El-Salam AR, Tohamy A, Abd-Elsayed AA. Safety and benefits of large-volume liposuction: a single center experience. Int Arch Med. 2009;2:4. doi:10.1186/1755-7682-2-4
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm