Implant cằm: bác sĩ đánh giá những gì trước khi đặt?

Vị trí cằm, khớp cắn, độ dày mô mềm và đường đi của thần kinh quyết định việc có nên đặt implant hay không. Bài viết giải thích các mốc tham chiếu và những nguy cơ cần biết trước.

“Cằm lẹm thì đặt cằm” nghe như một phép tính đơn giản. Nhưng trước khi nói đến kích thước implant, buổi khám phải trả lời một câu khác: phần thiếu nằm ở đâu, và nó có thật sự nằm ở cằm không. Bài viết giải thích các điểm bác sĩ xem xét.

Cằm được nhìn trong tổng thể khuôn mặt

Đường viền mặt nhìn nghiêng với hai đường tham chiếu nối đầu mũi và giữa trụ mũi tới điểm nhô nhất của cằm.
Hai đường tham chiếu thường được nhắc tới khi đánh giá vị trí cằm lúc nhìn nghiêng: một đường từ đầu mũi và một đường từ giữa trụ mũi, cùng đi tới điểm nhô nhất của cằm. Sơ đồ minh họa đơn giản của website, không theo tỷ lệ và không thay cho thăm khám.

Khi nhìn nghiêng, vị trí cằm được xét so với mũi và môi chứ không đứng một mình. Hai đường tham chiếu kinh điển được dùng: một đường nối đầu mũi với điểm nhô nhất của cằm, và một đường nối giữa trụ mũi với điểm đó[1]. Vị trí hai môi so với các đường này được ghi nhận, với mức chênh khoảng 2 mm thường được xem là trong khoảng chấp nhận được[1].

Một nghiên cứu trên 68 người được phẫu thuật chỉnh hình xương hàm ghi nhận trước mổ điểm cằm nằm cách vị trí tham chiếu trung vị khoảng 8 mm theo chiều trước – sau[1]. Đó là nhóm có bất tương xứng xương hàm rõ, trong một dân số cụ thể, nên con số này là mốc tham khảo chứ không phải mục tiêu phải đạt.

Khớp cắn: khi nào implant không phải câu trả lời

Đây là điểm dễ bị bỏ qua. Nếu cằm lùi vì tương quan hai hàm, thì đặt một miếng độn phía trước chỉ che bớt biểu hiện bên ngoài. Trong một loạt ca mổ lại vì biến chứng của implant cằm silicone, tác giả ghi nhận một phần đáng kể chỉ định ban đầu là dùng implant để bù cho tương quan hàm loại II, và kết luận rằng implant không nên được dùng thường quy cho mục đích này[4]. Vì vậy, khớp cắn được khám; khi nghi ngờ, bạn sẽ được giới thiệu khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt trước khi bàn tiếp.

Nền xương, mô mềm và đường đi của thần kinh

Vùng cằm có một lỗ nhỏ ở mặt ngoài xương hàm dưới, nơi nhánh thần kinh cảm giác đi ra để chi phối môi dưới và cằm. Một nghiên cứu cắt lớp trên 344 người (688 lỗ) ghi nhận lỗ này nằm trung bình cách bờ dưới xương hàm 13,55 mm, hay gặp nhất ở phía dưới răng cối nhỏ thứ hai (57,9%), và hai bên không hoàn toàn giống nhau[2]. Đây là lý do khoang đặt implant được tạo ở vị trí phù hợp và hạn chế bóc tách lên cao: tổn thương nhánh thần kinh này gây tê bì môi, cằm.

Độ dày mô mềm phủ bên ngoài cũng được xem, vì mô càng mỏng thì bờ implant càng dễ sờ thấy hoặc lộ.

Tiêu xương dưới implant, di lệch và nhiễm trùng muộn

Xương bên dưới implant có thể lõm dần theo thời gian. Một tổng quan hệ thống 28 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ được báo cáo trải rất rộng, từ 0% đến gần như toàn bộ người bệnh tùy nghiên cứu; ở các nghiên cứu theo dõi dưới 5 năm, mức lõm trung bình dưới 2 mm, và chỉ 4 nghiên cứu có thời gian theo dõi trung bình trên 10 năm[3]. Nói cách khác, mức độ phổ biến thật sự vẫn chưa rõ, nhưng hiện tượng này có thật và tăng theo thời gian theo dõi.

Loạt ca mổ lại nêu trên cho thấy lý do can thiệp lại gồm tiêu xương, implant di lệch, hoặc cả hai, bên cạnh nhóm không hài lòng về hình dáng; tác giả nhấn mạnh việc đặt sát xương và cố định chắc[4]. Đó là nhóm người đến khám vì đã có biến chứng, phần lớn mổ ở nơi khác, nên không phải tỷ lệ chung của kỹ thuật.

Một điểm thực tế đáng nhớ: trong loạt ca đó, trường hợp nhiễm trùng được ghi nhận xảy ra sau một lần tiêm chất làm đầy ở nơi khác, hai năm sau khi implant đã lành[4]. Vật liệu nhân tạo nằm trong cơ thể cần được tính đến mỗi khi bạn làm thủ thuật khác ở vùng lân cận.

Khi nào cần khám sớm?

Hãy đi khám ngay khi vùng cằm sưng đau tăng dần, đỏ, nóng, chảy dịch, hoặc khi thấy lộ vật liệu qua da hay qua niêm mạc miệng; nhiễm trùng liên quan vật liệu cấy ghép cần xử trí sớm, có khi phải lấy implant ra.

Hãy báo cho bác sĩ khi môi dưới hoặc cằm tê bì kéo dài, khi implant sờ thấy lệch rõ, hoặc khi bạn dự định tiêm chất làm đầy, điều trị nha khoa ở vùng quanh implant.

Nơi thực hiện

Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; implant cằm và gò má (đặt mới, thay, chỉnh sửa) cùng việc lấy bỏ implant vùng mặt được thực hiện tại phòng khám. Implant góc hàm dưới, bờ xương hàm dưới, thái dương và các trường hợp phối hợp implant với cấy mỡ được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.

Tài liệu tham khảo

  1. Singh P, Han H, Zhang H, Hsung RTC, Lin Y, Ajmera DH, et al. Determining post-orthognathic surgery profile: a validation study on the potential of modified chin point as a reliable predictor. PLoS One. 2025;20(8):e0329535. doi:10.1371/journal.pone.0329535
  2. Muinelo-Lorenzo J, Fernández-Alonso A, Smyth-Chamosa E, Suárez-Quintanilla JA, Varela-Mallou J, Suárez-Cunqueiro MM. Predictive factors of the dimensions and location of mental foramen using cone beam computed tomography. PLoS One. 2017;12(8):e0179704. doi:10.1371/journal.pone.0179704
  3. Yeung AWK, Wong NSM. Mandibular bone resorption following chin augmentation: a systematic review. Front Surg. 2022;9:815106. doi:10.3389/fsurg.2022.815106
  4. Pokrowiecki R. Revision surgery after complications of silicone chin implants. J Clin Med. 2026;15(4):1326. doi:10.3390/jcm15041326

Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm

Trang chuyên môn: Implant tạo hình vùng mặt

Đặt lịch khám với BS An

Phòng khám hoạt động ngoài giờ hành chính và theo lịch hẹn.

Đặt lịch khám