Implant hay cấy mỡ cho vùng mặt: chọn thế nào?
Implant bổ sung cho nền xương, cấy mỡ bổ sung cho lớp mô mềm. Bài viết so sánh hai hướng theo lớp mô, tỷ lệ mỡ còn lại theo y văn và nguy cơ riêng của từng cách.
Khi một vùng trên khuôn mặt trông hõm hoặc thiếu đầy đặn, có hai hướng bổ sung thường được nhắc tới: đặt implant hoặc cấy mỡ tự thân. Chúng không phải hai phiên bản của cùng một việc. Bài viết giải thích khác biệt và cách cân nhắc.
Hai cách bổ sung ở hai lớp khác nhau
Implant nằm sát xương và bổ sung cho phần nền xương; mỡ tự thân được rải trong lớp mô mềm phía trên. Một tổng quan về vật liệu implant vùng mặt nói thẳng rằng cấy mỡ không thay thế được việc bổ sung cho nền xương, và khi phần thiếu nằm ở xương mà chỉ thêm mô mềm thì đường nét có xu hướng kém rõ hơn[2]. Ngược lại, khi vấn đề là lớp mỡ mặt mỏng đi theo tuổi, thì một khối vật liệu cứng sát xương không giải quyết được.
Mỡ cấy còn lại bao nhiêu?
Đây là con số cần biết trước khi quyết định. Một bài tổng quan về biến chứng của cấy mỡ vùng mặt dẫn lại một phân tích gộp 12 nghiên cứu: khoảng 50–60% thể tích đã cấy còn lại ở thời điểm một năm, với khoảng dao động giữa các nghiên cứu từ 20% đến 80%[1]. Mức dao động lớn này phản ánh kỹ thuật xử lý mỡ, vùng cấy và cách đo khác nhau giữa các nghiên cứu.
Vì vậy, cần tính trước khả năng phải làm thêm. Trong một nghiên cứu hồi cứu trên 105 người cấy mỡ vùng mặt, 16 người (khoảng 15%) được làm thêm một lần bổ sung ở lần tái khám ba tháng[3]. Nghiên cứu này không đo thể tích bằng hình ảnh và không có nhóm đối chứng, nên con số chỉ mô tả thực tế của một trung tâm.
Nguy cơ của mỗi hướng khác nhau
Với cấy mỡ, tổng quan nêu trên ghi nhận tỷ lệ biến chứng chung khoảng 2,27% trong một phân tích gộp 4.577 người bệnh, trong khi một tổng quan hệ thống khác cho con số 7,7%; các biến chứng hay gặp là phù kéo dài, bề mặt không đều, hoại tử mỡ, còn nhiễm trùng dao động khoảng 0,10–0,54%[1]. Cấy mỡ còn có một nhóm nguy cơ mà implant không có: nơi lấy mỡ, với tỷ lệ biến chứng 5,5% trong một loạt 416 ca[1].
Nguy cơ hiếm nhưng nặng nhất của cấy mỡ là mỡ đi vào lòng mạch. Tổng quan đó ghi nhận tần suất khác nhau rõ theo vùng tiêm, cao hơn ở vùng giữa hai cung mày và trán, thấp nhất ở vùng má; các trường hợp tổn thương mạch máu mắt được báo cáo đều để lại hậu quả nặng về thị lực[1]. Đây là lý do vùng tiêm và lớp tiêm được cân nhắc kỹ.
Với implant, nhóm nguy cơ khác hẳn: nhiễm trùng liên quan vật liệu (có thể xuất hiện muộn), di lệch, sờ thấy bờ, và khả năng phải lấy ra. Tổng quan về vật liệu dẫn lại tỷ lệ phải lấy implant ra khác nhau theo chất liệu, từ dưới 1% đến hơn 10% tùy loại, và tỷ lệ nhiễm trùng được báo cáo thay đổi theo vùng đặt[2]. Các số liệu này đến từ những nghiên cứu khác nhau, không phải so sánh trực tiếp giữa hai phương pháp trên cùng một nhóm người bệnh.
Vậy chọn thế nào?
Trên thực tế, quyết định dựa vào: phần thiếu nằm ở lớp nào, độ dày và chất lượng mô mềm che phủ, tiền sử can thiệp trước đó, mức thay đổi bạn mong muốn, và việc bạn chấp nhận có vật liệu nhân tạo trong cơ thể hay chấp nhận thêm một vùng lấy mỡ. Hai hướng cũng có thể phối hợp: implant tạo nền, mỡ làm mềm chỗ chuyển tiếp.
Điều không thay đổi: cả hai đều cần đánh giá trực tiếp, và kết quả khác nhau ở mỗi người.
Khi nào cần khám sớm?
Hãy gọi 115 hoặc đến ngay cơ sở y tế gần nhất nếu ngay sau khi tiêm chất làm đầy hoặc cấy mỡ vùng mặt bạn thấy đau dữ dội, da đổi màu loang lổ hoặc trắng nhợt, nhìn mờ, nhìn đôi, đau mắt, sụp mi, hoặc yếu nửa người, nói khó: các dấu hiệu này cần được xử trí ngay trong những giờ đầu.
Hãy đi khám sớm khi vùng đặt implant hoặc vùng cấy mỡ sưng đau tăng dần, đỏ, chảy dịch, sốt, hoặc khi sờ thấy khối cứng mới xuất hiện.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; implant cằm và gò má (đặt mới, thay, chỉnh sửa) cùng việc lấy bỏ implant, chất liệu độn vùng mặt được thực hiện tại phòng khám. Implant góc hàm dưới, bờ xương hàm dưới, thái dương và các trường hợp phối hợp implant với cấy mỡ được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.
Tài liệu tham khảo
- Brown K, McCoskey M, Nakra T. Complications of facial autologous fat grafting. Plast Aesthet Res. 2024;11:7. doi:10.20517/2347-9264.2023.94
- Kauke-Navarro M, Knoedler L, Knoedler S, Deniz C, Stucki L, Safi AF. Balancing beauty and science: a review of facial implant materials in craniofacial surgery. Front Surg. 2024;11:1348140. doi:10.3389/fsurg.2024.1348140
- Yang R, Song Z, Wang J, Liang H. Strategic application of multilayer fat grafting in facial rejuvenation: a retrospective study. Front Surg. 2026;13:1744865. doi:10.3389/fsurg.2026.1744865
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm