Sẹo lồi và sẹo phì đại: khác nhau ở đâu, và vì sao cách xử trí khác nhau?

Hai loại sẹo gồ này thường bị gọi chung, nhưng ranh giới vết thương, cách tiến triển và cách điều trị của chúng khác nhau. Bài viết giải thích cách phân biệt và các thang điểm bác sĩ dùng.

“Sẹo lồi” là từ được dùng cho gần như mọi vết sẹo gồ lên. Trong chuyên môn, sẹo phì đại và sẹo lồi là hai tình trạng khác nhau, và sự khác nhau đó quyết định cách điều trị. Bài viết giải thích cách phân biệt.

Ranh giới vết thương là điểm phân biệt

Sẹo phì đại gồ lên nhưng nằm trong ranh giới của vết thương ban đầu, dù có thể giãn rộng ra. Sẹo lồi hành xử khác: nó lan ra ngoài ranh giới đó, sang vùng da vốn lành, có khi bắt đầu phát triển nhiều năm sau tổn thương, và thường ngứa hoặc đau[1].

Hai ô so sánh: sẹo phì đại gồ lên trong ranh giới vết thương ban đầu; sẹo lồi lan ra ngoài ranh giới sang vùng da lành.
Điểm phân biệt chính: sẹo phì đại gồ lên nhưng nằm trong ranh giới vết thương ban đầu, còn sẹo lồi lan ra ngoài ranh giới, sang vùng da vốn lành. Sơ đồ minh họa đơn giản của website, không theo tỷ lệ và không thay cho thăm khám.

Một vết sẹo bình thường cũng cần thời gian: lượng collagen tích tụ đạt đỉnh khoảng ba tuần sau mổ, rồi tái cấu trúc thêm khoảng sáu tháng, và dấu hiệu cho thấy sẹo đã trưởng thành là hết đỏ, phẳng, dù vẫn cứng hơn da thường[1].

Vì sao có người dễ bị hơn

Nguy cơ sẹo phì đại tăng khi vết thương không liền da trong khoảng hai tuần, khi viêm kéo dài, và khi vùng sẹo chịu lực căng[1]. Yếu tố cơ địa cũng rõ: sẹo lồi thường có tính gia đình[1], và tần suất khác nhau nhiều giữa các nhóm dân cư. Một tổng quan dịch tễ ghi nhận các con số công bố trải từ 0,09% đến 16% tùy quốc gia, với ước tính của nhóm tác giả là khoảng 5–10% ở người châu Phi và 0–0,1% ở người châu Á; chính họ lưu ý các số liệu này rời rạc và khó so sánh vì phương pháp khác nhau[3].

Vị trí cũng không ngẫu nhiên. Trong 1.500 sẹo lồi ở 483 người bệnh Nhật Bản, vùng ngực trước chiếm 48,9%, vùng xương bả vai 26,9% và vùng hàm dưới – cổ 12,1%[3]. Đây đều là những vùng da chịu lực căng khi cử động.

Bác sĩ phân loại bằng gì?

Một tài liệu đồng thuận của hội chuyên ngành tại Nhật Bản mô tả một bảng tính điểm gồm 12 mục, tổng 0–25 điểm, kết hợp các yếu tố nguy cơ (cơ địa, tiền sử gia đình, số lượng sẹo, vùng cơ thể, tuổi khởi phát, nguyên nhân) với biểu hiện hiện tại (kích thước, sẹo đang dày lên hay lan rộng, hình dạng, quầng đỏ quanh sẹo, triệu chứng chủ quan)[2]. Mức điểm từ 0–5 ứng với sẹo trưởng thành, 6–15 ứng với sẹo phì đại và từ 16 trở lên ứng với sẹo lồi; tài liệu này cũng đề nghị các trường hợp ở nhóm điểm cao nên được điều trị ở cơ sở chuyên sâu[2]. Một bảng thứ hai gồm 6 mục (độ cứng, độ gồ, đỏ tại sẹo, quầng đỏ quanh sẹo, đau, ngứa) được dùng để theo dõi đáp ứng qua các lần tái khám[2].

Ngoài ra còn nhiều thang đánh giá sẹo khác. Thang Vancouver, công bố năm 1990, là thang được dùng rộng rãi đầu tiên, gồm bốn mục: mạch máu, sắc tố, độ dày và độ mềm mại[4]. Thang POSAS, năm 2004, là thang đầu tiên ghi nhận cả đánh giá của bác sĩ lẫn của người bệnh[4]. Các tác giả không chỉ định riêng một thang nào là đúng; điều họ nhấn mạnh là chọn công cụ phù hợp với mục đích sử dụng[4].

Vì sao cách xử trí khác nhau

Với sẹo phì đại, điều trị thường bắt đầu bằng các biện pháp tại chỗ và theo dõi, vì nhiều sẹo phì đại cải thiện dần theo thời gian[2]. Với sẹo lồi, vấn đề là tái phát: tài liệu đồng thuận nêu trên dẫn lại rằng cắt bỏ đơn thuần có tỷ lệ tái phát rất cao, nên phẫu thuật thường phải đi kèm điều trị bổ trợ và theo dõi lâu dài[2]. Đó là lý do bác sĩ không nhận lời “cắt cho hết sẹo” ngay trong buổi khám đầu tiên mà phân loại trước.

Các con số trên đến từ những nhóm dân cư khác nhau, phần lớn là nghiên cứu quan sát; chúng giúp định hướng chứ không dự đoán kết quả cho một người cụ thể.

Khi nào cần khám sớm?

Hãy đi khám sớm khi một vết sẹo đang to nhanh, loét, chảy máu, chảy dịch hoặc thay đổi màu sắc bất thường, vì không phải khối gồ nào trên da cũng là sẹo; những tổn thương này cần được bác sĩ xem trực tiếp.

Cũng nên đi khám khi sẹo ngứa, đau kéo dài, hoặc khi sẹo nằm ở vùng khớp và bắt đầu làm hạn chế cử động.

Nơi thực hiện

Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; sẹo vùng mặt, cổ được xử trí tại phòng khám. Sẹo ở thân mình, tay chân và các trường hợp cần vạt da lớn hoặc ghép da diện rộng được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.

Tài liệu tham khảo

  1. Mustoe TA. International scar classification in 2019. Trong: Téot L, Mustoe TA, Middelkoop E, Gauglitz GG, chủ biên. Textbook on Scar Management. Cham: Springer; 2020. Chương 9, tr. 79-84. doi:10.1007/978-3-030-44766-3_9
  2. Ogawa R, Akita S, Akaishi S, Aramaki-Hattori N, Dohi T, Hayashi T, et al. Diagnosis and treatment of keloids and hypertrophic scars: Japan Scar Workshop consensus document 2018. Burns Trauma. 2019;7:39. doi:10.1186/s41038-019-0175-y
  3. Huang C, Wu Z, Du Y, Ogawa R. The epidemiology of keloids. Trong: Téot L, Mustoe TA, Middelkoop E, Gauglitz GG, chủ biên. Textbook on Scar Management. Cham: Springer; 2020. Chương 4, tr. 29-35. doi:10.1007/978-3-030-44766-3_4
  4. Carrière ME, van de Kar AL, van Zuijlen PPM. Scar assessment scales. Trong: Téot L, Mustoe TA, Middelkoop E, Gauglitz GG, chủ biên. Textbook on Scar Management. Cham: Springer; 2020. Chương 14, tr. 125-132. doi:10.1007/978-3-030-44766-3_14

Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm

Trang chuyên môn: Phẫu thuật chỉnh sửa sẹo

Đặt lịch khám với BS An

Phòng khám hoạt động ngoài giờ hành chính và theo lịch hẹn.

Đặt lịch khám