Tạo hình thành bụng hay hút mỡ: dựa vào gì để chọn?
Vùng bụng có ba lớp là da, mỡ và lớp cân cơ; mỗi lớp hỏng theo cách riêng và cần cách xử trí riêng. Bài viết giải thích các thuật toán chọn kỹ thuật đã công bố và vì sao số đo quan trọng hơn lượng mỡ.
Nhiều người đến khám với một câu hỏi gọn: “tôi nên hút mỡ hay tạo hình thành bụng?”. Câu trả lời không nằm ở lượng mỡ, mà ở chỗ vấn đề thuộc lớp mô nào. Bài viết giải thích cách các tác giả đã công bố phân nhóm và chọn kỹ thuật.
Ba lớp, ba vấn đề khác nhau
Thành bụng gồm da ở ngoài, lớp mỡ dưới da, rồi lớp cân cơ với hai khối cơ thẳng bụng nằm hai bên đường giữa. Khi đường giữa giãn rộng, hai khối cơ xa nhau hơn; đây là tình trạng giãn cơ thành bụng, trong đó bao cân của cơ vẫn còn nguyên vẹn, khác với thoát vị thành bụng[4].
Phân biệt ba lớp này quyết định hướng xử trí: mỡ thừa nằm ở lớp mỡ, da chùng nằm ở lớp da, còn đường giữa giãn nằm ở lớp cân cơ. Một người có thể chỉ gặp một lớp, cũng có thể gặp cả ba.
Các thuật toán đã công bố dựa vào số đo nào?
Một nghiên cứu hồi cứu trên 245 người được mổ trong giai đoạn 1991–2015 mô tả thuật toán chỉ dùng hai dữ kiện: khoảng cách từ rốn đến xương mu (tác giả xem 14–15 cm là mức bình thường) và độ nhão của da đánh giá bằng cách kẹp da hai tay[1]. Từ hai dữ kiện đó, các tác giả xếp năm nhóm kỹ thuật: cắt da vùng dưới rốn khi da chỉ nhão ngay dưới rốn và giữ nguyên rốn; tách rốn rồi cắm lại thấp hơn khi khoảng cách rốn – xương mu từ 15 cm trở lên mà da không đủ nhão để cắt bỏ vị trí rốn cũ; và các kỹ thuật rộng hơn khi lượng da thừa nhiều[1].
Một bài kỹ thuật khác dẫn lại cách phân bốn độ vẫn được dùng phổ biến, ghép mỗi độ với một hướng xử trí: độ nhão da tối thiểu kèm giãn cơ tối thiểu thì hút mỡ là đủ, còn da nhão nhiều kèm giãn cơ toàn bộ thì cần tạo hình thành bụng tiêu chuẩn[2]. Điểm đáng chú ý là trong bảng phân độ đó, lượng mỡ được ghi là “thay đổi” ở cả bốn độ[2]: nói cách khác, lượng mỡ không phải thứ quyết định chọn kỹ thuật nào.
Vì sao phạm vi càng rộng thì cân nhắc càng kỹ
Trong nghiên cứu 245 người nêu trên, tỷ lệ biến chứng chung là 17,55%, thường gặp nhất là tụ dịch (10,2%) và sẹo phì đại (4,48%); tỷ lệ này tăng dần theo phạm vi kỹ thuật, từ 6,66% ở nhóm kỹ thuật hẹp nhất lên khoảng 20–21% ở các nhóm rộng hơn[1]. Đó là lý do bác sĩ không chọn kỹ thuật rộng hơn mức cần thiết.
Điều kiện của người bệnh cũng được xét trước. Một báo cáo trên 93 ca nêu các tiêu chí thường dùng khi chọn người phù hợp: sức khỏe ổn định, cân nặng không đổi trong ít nhất hai tháng, chỉ số khối cơ thể dưới 30, và ngừng thuốc lá ít nhất bốn tuần trước mổ[3]. Trong báo cáo đó, dẫn lưu được rút trung bình vào ngày thứ tám sau mổ và khoảng 12% cần một can thiệp nhỏ về sau để xử lý phần da dư ở hai đầu đường mổ hoặc sẹo phì đại[3].
Cần nói rõ giới hạn của các con số này: cả hai nghiên cứu đều là loạt ca của một nhóm phẫu thuật viên, không có nhóm đối chứng, nên chúng mô tả kinh nghiệm chứ không chứng minh kỹ thuật nào hơn kỹ thuật nào. Kết quả khác nhau ở mỗi người.
Những điều kỹ thuật này không làm được
Tạo hình thành bụng và hút mỡ không phải cách giảm cân, và cũng không thay thế việc ổn định cân nặng trước. Hút mỡ làm mỏng lớp mỡ nhưng không làm da chùng gọn lại, cũng không thu hẹp đường giữa đã giãn. Mọi đường mổ đều để lại sẹo; khi phải cắm lại rốn, có thêm một đường sẹo quanh rốn. Nếu bạn còn dự định mang thai, nên trao đổi trước vì thành bụng sẽ thay đổi tiếp.
Khi nào cần khám sớm?
Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu nếu có khối phồng ở rốn hoặc trên đường giữa bụng mà đau, cứng, không xẹp khi nằm, kèm buồn nôn, nôn hoặc bí trung đại tiện: đó có thể là thoát vị nghẹt.
Hãy đi khám sớm khi xuất hiện khối phồng mới ở thành bụng, khi vùng sẹo mổ cũ đau tăng dần, hoặc khi bụng to nhanh bất thường dù cân nặng không tăng.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, BS An khám và tư vấn. Các phẫu thuật tạo hình thành bụng và hút mỡ cơ thể được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.
Tài liệu tham khảo
- Fernandes JW, Damin R, Holzmann MVN, Ribas GGO. Use of an algorithm in choosing abdominoplasty techniques. Rev Col Bras Cir. 2018;45(2):e1394. doi:10.1590/0100-6991e-20181394
- Matarasso A, Suri S, Stein MJ. Lipoabdominoplasty technique. Plast Aesthet Res. 2021;8:57. doi:10.20517/2347-9264.2021.37
- Seretis K. Applying art and science in lipoabdominoplasty: technical and safety considerations. Plast Aesthet Res. 2021;8:51. doi:10.20517/2347-9264.2021.71
- Jessen ML, Öberg S, Rosenberg J. Treatment options for abdominal rectus diastasis. Front Surg. 2019;6:65. doi:10.3389/fsurg.2019.00065
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm