Khám mí mắt và sụp mi: bác sĩ đo và nhìn những gì?

Trước khi bàn đến nếp mí, bác sĩ cần biết mắt mở đủ chưa, cơ nâng mi còn khỏe không và mắt có nhắm kín không. Bài viết giải thích các số đo và điểm khám thường dùng.

Sụp mi là tình trạng bờ mi trên nằm thấp hơn bình thường, che bớt đồng tử. Nhiều người đến khám vì “mắt một bên nhỏ hơn” hoặc “mí đã làm nhưng chưa đều”; điều cần xác định đầu tiên không phải nếp mí, mà là mắt mở đủ chưa và vì sao. Bài viết giải thích các số đo và điểm khám bác sĩ dựa vào.

Ba số đo cơ bản

Khi bạn nhìn thẳng, bác sĩ đo khoảng cách từ tâm đồng tử lên bờ mi trên, gọi là MRD1. Ở mắt bình thường, MRD1 thường là 4–5 mm; số đo này giảm là dấu hiệu của sụp mi[1]. Khoảng cách từ tâm đồng tử xuống bờ mi dưới (MRD2) và chiều cao khe mi, tức khoảng mở giữa hai bờ mi, được ghi cùng lúc, riêng từng mắt.

Sơ đồ một mắt nhìn thẳng: khoảng cách từ tâm đồng tử lên bờ mi trên (MRD1), xuống bờ mi dưới (MRD2) và chiều cao khe mi.
Ba số đo thường dùng khi khám mí: khoảng cách từ tâm đồng tử lên bờ mi trên (MRD1), từ tâm đồng tử xuống bờ mi dưới (MRD2) và chiều cao khe mi (khoảng mở giữa hai bờ mi). Sơ đồ minh họa đơn giản của website, không theo tỷ lệ và không thay cho thăm khám.

Số đo thứ hai là chức năng cơ nâng mi: bác sĩ giữ cung mày để loại bỏ lực nhướn mày, rồi đo biên độ di chuyển của mi trên khi bạn nhìn xuống rồi nhìn lên hết cỡ. Biên độ này được xếp loại kém (0–4 mm), trung bình (5–11 mm), tốt (12–14 mm) và bình thường (trên 15 mm)[1]. Cách chỉnh độ mở của mắt được chọn theo chức năng cơ nâng mi của từng bên.

Trong một khảo sát ý kiến 163 thành viên của một hội phẫu thuật tạo hình mắt tại Hoa Kỳ, chức năng cơ nâng mi (91,4%) và MRD1 (87,7%) là hai yếu tố trước mổ được nêu nhiều nhất; mức nhướn mày bù trừ được 55,2% nhắc tới[2].

Sụp mi thật hay chỉ trông như sụp?

Không phải mắt nào trông “sụp” cũng là sụp mi thật. Da mí thừa phủ xuống bờ mi hoặc cung mày sa có thể tạo vẻ tương tự; đó là giả sụp mi, vì cơ nâng mi và cân cơ không bị tổn thương[1]. Bác sĩ nhấc nhẹ phần da thừa lên để xem bờ mi thật sự ở đâu[1].

Ngược lại, có người sụp mi thật nhưng trông gần bình thường vì quen nhướn mày: cơ trán nâng cung mày và gián tiếp kéo mi lên một chút[1]. Vì vậy, bác sĩ quan sát cung mày và nếp nhăn trán, rồi đo lại khi giữ mày cố định.

Một số bệnh thần kinh – cơ, như nhược cơ, có thể gây sụp mi nặng hơn khi mệt và được nhận biết tại phòng khám bằng nghiệm pháp nghỉ hoặc chườm lạnh[1]. Khi nghi ngờ, cần tìm nguyên nhân trước khi tính đến phẫu thuật.

Với sụp mi mắc phải, bác sĩ có thể nhỏ thuốc phenylephrine vào mắt: nếu mi nâng lên, cơ Müller còn hoạt động và đó là một gợi ý cho cách mổ qua mặt trong mí[1]. Một nghiên cứu năm 2026 trên 231 mắt xem nghiệm pháp là dương tính khi MRD1 tăng hơn 1,5 mm sau nhỏ thuốc[3].

Hai mắt liên quan với nhau

Hai mi trên nhận cùng một tín hiệu thần kinh. Sau khi mổ bên sụp, tín hiệu chung giảm xuống và mi bên kia có thể hạ thấp hơn trước, nên có trường hợp cần chỉnh thêm[1]. Vì vậy sự cân đối hai bên được đánh giá kỹ trước mổ, và bạn nên biết trước khả năng này.

Bảo vệ mắt, mi dưới và những điều còn lại

Mắt mở nhiều hơn chỉ có lợi khi mắt vẫn nhắm kín được. Bác sĩ kiểm tra bạn nhắm mắt có kín không, nhãn cầu có đưa lên khi nhắm không (hiện tượng Bell), cảm giác giác mạc khi có chỉ định, và các triệu chứng khô mắt. Chỉnh quá mức có nguy cơ gây hở mi và tổn thương giác mạc do hở[1]; nghiên cứu nêu trên cũng loại khỏi phẫu thuật những người khô mắt mức vừa đến nặng[3].

Mi dưới được xem riêng: vị trí bờ mi dưới, phần lòng trắng lộ bên dưới, độ lỏng của mi và tương quan giữa nhãn cầu với gò má, vì mi dưới nằm thấp sẵn thì dễ bị kéo trễ sau mổ. Góc mắt, da và mô mềm, vị trí nếp mí hiện có, sẹo và tiền sử mổ trước cũng được ghi nhận; trên nền mô sẹo, kết quả khó dự đoán hơn lần mổ đầu.

Khi nào cần khám sớm?

Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu nếu sụp mi xuất hiện đột ngột hoặc nặng lên nhanh kèm nhìn đôi, đau đầu dữ dội, hai đồng tử to nhỏ khác nhau, yếu tay chân hoặc nói khó.

Hãy đi khám sớm khi sụp mi thay đổi trong ngày hoặc nặng hơn về chiều, kèm nhìn đôi, nuốt khó hay yếu cơ; khi trẻ em có mi che một phần đồng tử; hoặc khi mắt không nhắm kín sau một lần phẫu thuật mí trước.

Nơi thực hiện

Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; các phẫu thuật khác và trường hợp cần gây mê được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.

Tài liệu tham khảo

  1. Bacharach J, Lee WW, Harrison AR, Freddo TF. A review of acquired blepharoptosis: prevalence, diagnosis, and current treatment options. Eye (Lond). 2021;35:2468-2481. doi:10.1038/s41433-021-01547-5
  2. Cornwell JN, Smith CS, Lucarelli KM, Sones A, Rootman DB. Critical pre- and postoperative factors in evaluating ptosis. Front Ophthalmol. 2025;5:1609113. doi:10.3389/fopht.2025.1609113
  3. Nowak-Gospodarowicz I, Kinasz M, Kicińska AK, Rękas M. An update on posterior-approach blepharoptosis surgery: influence of clinical factors on surgical outcomes. PLoS ONE. 2026;21(2):e0343505. doi:10.1371/journal.pone.0343505

Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm

Trang chuyên môn: Mí mắt & vùng quanh mắt

Đặt lịch khám với BS An

Phòng khám hoạt động ngoài giờ hành chính và theo lịch hẹn.

Đặt lịch khám