Khám mũi trước phẫu thuật: bác sĩ đánh giá những gì?

Khung xương – sụn, vách ngăn, đường thở, lớp da, tương quan cánh mũi – trụ mũi và nguồn sụn có thể dùng. Bài viết giải thích các điểm bác sĩ xem xét trước khi bàn về kỹ thuật nâng mũi.

Buổi khám trước phẫu thuật mũi không chỉ nhìn sống mũi: bác sĩ đánh giá từng phần của khung nâng đỡ, lớp da phủ bên trên và đường thở bên trong. Bài viết giải thích các điểm khám này và vì sao chúng quyết định kỹ thuật.

Khung xương – sụn và trục mũi

Phần trên của mũi là xương, phần dưới là sụn. Bác sĩ nhìn tháp xương có lệch trục không, sống mũi gồ hay lõm, đường viền có liên tục không. Vách ngăn được khám từ bên trong: vách lệch vừa ảnh hưởng đường thở, vừa là nguồn sụn thường dùng, và một vách ngăn lệch có thể hạn chế việc dùng sụn này làm mảnh ghép vì nguy cơ biến dạng[4]. Nếu sụn vách đã được lấy ở lần mổ trước, nguồn này có thể không còn.

Đầu mũi được nâng đỡ bởi các cấu trúc sợi và sụn; giữ được chúng khi mổ là điều quan trọng, nhưng một số thao tác buộc phải dựng lại chúng để giữ dáng và chức năng[4]. Vì thế, hình dạng và độ vững của sụn cánh mũi lớn, mức nhô và độ xoay của đầu mũi được ghi nhận trước.

Đường thở: không chỉ là dáng mũi

Van mũi là đoạn hẹp nhất của đường thở, được giới hạn bởi vách ngăn ở trong, sụn bên trên và sụn cánh mũi ở phía trên ngoài, đầu cuốn mũi dưới ở dưới ngoài và sàn mũi ở dưới[1]. Góc của van mũi trong chỉ khoảng 10–15 độ, nên chỉ một thay đổi nhỏ ở diện tích đoạn này, chẳng hạn do cuốn mũi dưới phì đại, cũng có thể làm tăng đáng kể sức cản luồng khí[1].

Tại phòng khám, bác sĩ có thể làm nghiệm pháp Cottle: kéo má ra phía ngoài khi bạn hít vào; nếu bạn thấy dễ thở hơn, nghiệm pháp dương tính[1]. Tuy nhiên, tổng quan năm 2025 nhận định mối liên quan giữa nghiệm pháp dương tính và nhu cầu sửa van mũi còn yếu[1]. Một nghiên cứu tiến cứu trên 141 người tại Canada được mổ vách ngăn và cuốn mũi cho thấy mức cải thiện triệu chứng sau 12 tháng không khác biệt giữa nhóm có và không có nghiệm pháp Cottle dương tính trước mổ (p = 0,38)[3]. Nghiệm pháp chỉ là một mảnh ghép, bên cạnh nội soi mũi và lời kể của bạn.

Lớp da – mô mềm, cánh mũi và trụ mũi

Lớp da và mô mềm phủ mũi quyết định mức thay đổi có thể đạt được: da mỏng làm lộ các gờ của khung sụn, da dày che bớt chi tiết. Trong một nghiên cứu hồi cứu trên 214 người nâng mũi đường kín bằng sụn sườn băm nhỏ, da sống mũi mỏng là một trong các yếu tố đi kèm nguy cơ biến chứng cao hơn[5].

Nhìn nghiêng, bác sĩ xem tương quan giữa bờ cánh mũi và trụ mũi. Theo mô tả kinh điển được một bài viết năm 2014 dẫn lại, phần trụ mũi lộ dưới bờ cánh mũi không nên quá 2–3 mm[2]; trụ mũi “treo”, trụ mũi “ẩn” hay cánh mũi co rút là các dạng lệch khỏi mức này, được xếp loại riêng và cần cách xử lý khác nhau[2].

Tỷ lệ khuôn mặt, tiền sử và nguồn sụn

Chiếc mũi được nhìn trong tổng thể khuôn mặt: góc trán – mũi, góc trụ mũi – môi trên, độ nhô của đầu mũi so với chiều dài mũi và tương quan với cằm. Các số đo tham khảo khác nhau theo giới và chủng tộc, nên chỉ là điểm xuất phát để trao đổi, không phải khuôn mẫu phải đạt.

Tiền sử phẫu thuật mũi, tiêm chất làm đầy hoặc chấn thương được hỏi kỹ. Mũi đã mổ nhiều lần có mô sẹo, da và máu nuôi kém hơn, nên mức thay đổi bị giới hạn. Nguồn sụn tự thân có thể dùng gồm sụn vách ngăn, sụn tai và sụn sườn; mỗi nguồn có lợi ích và giới hạn riêng. Với sụn sườn, nghiên cứu 214 người nêu trên xếp biến dạng thành ngực, đau kéo dài và tràn khí màng phổi vào nhóm biến chứng tại nơi lấy sụn[5], nên thường chỉ cân nhắc khi cần lượng sụn hoặc độ nâng đỡ lớn.

Khi nào cần khám sớm?

Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu nếu sau chấn thương mũi có chảy máu không cầm, khó thở, hoặc chảy dịch trong kéo dài từ mũi.

Hãy đi khám sớm khi nghẹt mũi một bên kéo dài, chảy máu mũi tái diễn, hoặc mũi sưng đau, biến dạng sau chấn thương, vì tụ máu vách ngăn cần xử trí sớm.

Nơi thực hiện

Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; các phẫu thuật khác và trường hợp cần gây mê được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám. Các trường hợp cần lấy sụn sườn được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp.

Tài liệu tham khảo

  1. Pirola F, Kim R, Douglas R. Nasal valve obstruction: a comprehensive analysis of the current literature and proposal of a management algorithm. Front Surg. 2025;12:1549915. doi:10.3389/fsurg.2025.1549915
  2. Ribeiro L, Pessoa MCM, Andrade RM. Aesthetic treatment of retracted and hanging nasal columellas. Rev Bras Cir Plást. 2014;29(1):159-164. doi:10.5935/2177-1235.2014RBCP0026
  3. Bonaparte JP, Campbell R. A prospective cohort study assessing the clinical utility of the Cottle maneuver in nasal septal surgery. J Otolaryngol Head Neck Surg. 2018;47:45. doi:10.1186/s40463-018-0292-9
  4. Nocini R, Magagnotto N, Chirumbolo S, Albanese M, Bertossi D. New insights into the role of columellar strut and septal extension graft: a comparative review of long-term outcomes. Diagnostics. 2025;15(16):2051. doi:10.3390/diagnostics15162051
  5. Ju Y, Wang J, Shi X, Chi W, Zhan C. Analysis of influencing factors on postoperative complications of closed approach autologous granular rib cartilage rhinoplasty and construction and verification of nomogram. Front Surg. 2025;12:1599790. doi:10.3389/fsurg.2025.1599790

Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm

Trang chuyên môn: Tạo hình mũi

Đặt lịch khám với BS An

Phòng khám hoạt động ngoài giờ hành chính và theo lịch hẹn.

Đặt lịch khám