Khám ngực trước phẫu thuật: bác sĩ đo những gì, và vì sao không bắt đầu từ số cc?
Độ rộng chân ngực, độ dày mô mềm, da, mức sa trễ, vị trí núm vú, sự bất cân xứng và thành ngực. Bài viết giải thích các điểm khám và vì sao phương án tạo hình ngực được chọn sau khi đánh giá mô.
Nhiều người đến khám với một con số trong đầu: “túi 300 cc” hay “lên hai cỡ áo”. Nhưng phương án tạo hình ngực được chọn sau khi đánh giá mô vú, da, thành ngực và mục tiêu của bạn, không bắt đầu từ số cc. Bài viết giải thích bác sĩ đo gì, nhìn gì và vì sao.
Những mốc đo cơ bản
Bác sĩ đo mỗi bên ngực riêng: khoảng cách từ hõm ức đến núm vú, từ núm vú đến nếp dưới vú, độ rộng chân ngực, và véo nhẹ da phần trên ngực để ước lượng độ dày mô mềm. Độ giãn của da khi kéo nhẹ cho biết bao da có rộng hơn lượng mô bên trong hay không. Những số đo này giới hạn kích thước, hình dáng túi ngực có thể đặt, hoặc cho biết chỉ cần nâng và tạo lại hình dáng từ mô sẵn có.
Để hình dung, một nghiên cứu chụp ảnh ba chiều 100 phụ nữ chưa từng phẫu thuật ngực ghi nhận khoảng cách hõm ức – núm vú trung bình gần 20 cm mỗi bên, hai bên chênh trung bình 0,67 cm; khoảng cách núm vú – nếp dưới vú trung bình 6,4 cm[1]. Các con số chỉ mô tả nhóm được chụp, không phải mức để so.
Hai bên ngực không giống nhau
Trong nghiên cứu trên, tất cả 100 người đều có mức bất cân xứng nào đó, và 14% có hai núm vú lệch khỏi đường giữa chênh nhau hơn 2 cm[1]. Bất cân xứng là bình thường; điều bác sĩ cần biết là chênh ở đâu, bao nhiêu và bạn có nhận ra không.
Một khảo sát bằng hình mô phỏng trên máy tính với 203 bác sĩ phẫu thuật tạo hình ở Đức, Áo, Thụy Sĩ và 100 người bệnh cho thấy 89% bác sĩ và 81% người bệnh thấy bộ ngực có hai núm vú đối xứng là đẹp hơn, trong khi chênh lệch nhỏ cỡ 5 mm hầu như không tạo khác biệt[2]. Các tác giả cũng lưu ý khoảng cách hõm ức – núm vú phụ thuộc nhiều vào độ rộng của ngực, nên vị trí núm vú được xét theo tâm của bầu ngực hơn là theo một con số cố định[2].
Sa trễ, da và thành ngực
Mức sa trễ thường được mô tả theo phân loại của Regnault, dựa vào vị trí núm vú so với nếp dưới vú và điểm thấp nhất của bầu ngực; khi mô vú chảy xuống nhưng núm vú vẫn nằm trên nếp dưới vú, tình trạng này được gọi là giả sa trễ[3]. Phân loại giúp định hướng: sa trễ rõ thường cần nâng và tạo lại hình dáng, chỉ thêm thể tích không giải quyết được.
Chất lượng da (độ đàn hồi, vết rạn) và tiền sử mang thai, cho con bú, thay đổi cân nặng cũng được hỏi, vì mô vú tiếp tục thay đổi sau phẫu thuật.
Thành ngực dễ bị bỏ qua: lồng ngực lõm, lồi, vẹo cột sống hay xương sườn hai bên không đều làm bầu ngực và núm vú nằm lệch dù mô vú bình thường. Một nghiên cứu trên 22 phụ nữ bị lõm ngực ghi nhận hai bầu ngực thường “nghiêng vào trong”, và khoảng cách giữa hai núm vú tăng từ khoảng 145 mm lên 172 mm sau khi thành ngực được chỉnh[4]. Kế hoạch phải tính đến nền bên dưới này.
Thể tích, nguồn mô và mục tiêu
Thể tích hiện có và nguồn mô sẵn có quyết định hướng đi: thêm thể tích, chủ yếu nâng, giảm bớt, hay phối hợp. Khi cân nhắc cấy mỡ tự thân, cần biết mỡ cấy tiêu một phần: một tổng quan năm 2024 ghi nhận tỷ lệ mất mỡ trong năm đầu được báo cáo từ 20% đến 90% tùy kỹ thuật và tay nghề, theo dõi bằng ảnh ba chiều cho thấy khoảng 40–50% mỡ còn lại, và kết quả khó dự đoán là thách thức chính[5]. Vì vậy, cấy mỡ chỉ dùng ở trường hợp phù hợp, thường kết hợp túi ngực, và không thay được mọi phương án.
Sau cùng là mục tiêu của bạn: ảnh mẫu giúp trao đổi, nhưng kết quả phụ thuộc vào mô của chính bạn. Túi ngực, nâng ngực, thu nhỏ hay phối hợp đều có sẹo, nguy cơ riêng và có thể cần chỉnh sửa; hai bên sau phẫu thuật vẫn có thể chênh nhẹ.
Khi nào cần khám sớm?
Hãy đi khám chuyên khoa vú sớm, trước khi bàn về thẩm mỹ, khi sờ thấy khối u mới, núm vú tụt vào mới xuất hiện, chảy dịch máu ở núm vú, da vú dày lên như vỏ cam hoặc đỏ nóng kéo dài. Trước mổ, bác sĩ hỏi tiền sử bệnh lý tuyến vú, khám vú và đề nghị siêu âm hoặc nhũ ảnh tùy tuổi và yếu tố nguy cơ.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, BS An khám và tư vấn. Phẫu thuật tạo hình ngực được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.
Tài liệu tham khảo
- Henseler H. Exploring natural breast symmetry in the female plastic surgical patient population. GMS Interdiscip Plast Reconstr Surg DGPW. 2023;12:Doc03. doi:10.3205/iprs000173
- Loucas R, Loucas M, Leitsch S, Mayer JM, Alberti A, Haroon O, et al. How useful is the SSN–nipple distance? An analytical questionnaire survey on anthropometric measurements for the aesthetically ideal positioning of the nipple–areolar complex. J Clin Med. 2023;12(7):2494. doi:10.3390/jcm12072494
- Kotti B. A simple classification and a simplified treatment's algorithm for ptotic breasts. Plast Aesthet Res. 2018;5:16. doi:10.20517/2347-9264.2018.11
- Yoo G, Jeon HH, Rha EY, Ko JG, Baek SO, Lee JY, et al. The changes of distance between nipples following correction of women pectus excavatum. Sci Rep. 2022;12:20265. doi:10.1038/s41598-022-24768-4
- Bogdan RG, Helgiu A, Cimpean AM, Ichim C, Todor SB, Iliescu-Glaja M, et al. Assessing fat grafting in breast surgery: a narrative review of evaluation techniques. J Clin Med. 2024;13(23):7209. doi:10.3390/jcm13237209
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm