Sẹo co kéo: vì sao hướng của đường sẹo lại quan trọng?
Sẹo nằm ngang nếp căng da chịu lực kéo lớn hơn, dễ giãn rộng và co kéo. Bài viết giải thích vai trò của hướng đường sẹo, cách giảm lực căng khi khâu và khi nào cần đổi hướng đường sẹo.
Hai người cùng một đường mổ dài như nhau có thể có hai vết sẹo rất khác nhau. Một trong những lý do là hướng của đường sẹo so với hướng căng của vùng da đó. Bài viết giải thích điều này và những gì có thể làm được với một vết sẹo đã nằm sai hướng.
Da có hướng căng riêng ở từng vùng
Từ năm 1962, các nếp căng da của mặt và sau đó của thân mình đã được mô tả và dùng làm hướng dẫn cho đường mổ; nguyên tắc chung là đặt đường mổ song song với các nếp này khi có thể[1]. Một cách đơn giản để tìm hướng tại giường bệnh là kẹp nhẹ da để xem nếp gấp chạy theo chiều nào[1].
Hướng căng cũng giải thích hình dạng của sẹo gồ: trên ngực trước, lực căng chạy ngang nên sẹo lồi vùng này thường phát triển theo chiều ngang, và các vùng da ít căng như mi mắt rất hiếm gặp sẹo lồi[4]. Một chi tiết khác đáng chú ý: tổn thương nông, chưa tới lớp bì lưới, không tạo sẹo lồi hay sẹo phì đại[4].
Con số minh họa rõ nhất đến từ thành bụng: một nghiên cứu được dẫn lại cho thấy sẹo sau đường mổ dọc giữa rộng trung bình 8,3 mm, so với 3,3 mm sau đường mổ ngang[1]. Đây là dữ liệu quan sát trên nhóm người bệnh cụ thể, không phải so sánh ngẫu nhiên, nhưng phù hợp với nguyên tắc nêu trên.
Giảm lực căng nằm ở lớp sâu, không nằm ở mũi khâu ngoài da
Một điều thường bị hiểu sai: khâu da đẹp không đủ để sẹo đẹp. Theo một tài liệu kỹ thuật, khâu lớp cân sâu giúp giảm khoảng 90% lực căng lên mép vết thương, phần còn lại do lớp cân nông đảm nhận; khâu lớp bì chỉ xử lý phần nhỏ còn lại[2]. Lớp bì cũng cần thời gian: khoảng ba tháng sau khi bị thương, nó mới đạt chừng 80% sức bền của da lành, nên vật liệu khâu bên trong phải giữ được lực trong ít nhất khoảng thời gian đó[2].
Vùng khớp là nơi khó nhất, vì cử động tạo lực kéo lặp đi lặp lại lên vết thương, có thể duy trì tình trạng viêm tại lớp bì và dẫn tới sẹo đỏ, gồ, cứng và đau[2].
Khi sẹo đã nằm sai hướng
Lúc này mục tiêu không phải xóa sẹo mà đổi hướng và chia nhỏ lực căng. Kỹ thuật tạo hình chữ Z đổi hướng đường sẹo cho gần với nếp da hơn và chia một đường sẹo dài thành các đoạn ngắn; các đoạn này thường ổn định nhanh hơn một đường sẹo dài liên tục[2]. Với sẹo co kéo vùng khớp hoặc vùng cổ, đây cũng là kỹ thuật được dùng nhiều nhất[3].
Sẹo co kéo được mô tả là tình trạng mô sẹo làm thiếu da khi cử động, mức thiếu có thể từ 2 đến 10 cm tùy trường hợp[3]. Thời điểm can thiệp quan trọng: phần lớn trường hợp đáp ứng với điều trị phục hồi chức năng tích cực nếu được phát hiện sớm, khoảng một tháng sau khi vết thương lành, còn các trường hợp muộn hơn thường cần phẫu thuật[3]. Với chương trình phục hồi chức năng làm đúng, hơn 90% người bệnh trở lại chức năng bình thường sau hai năm; nhưng chính các tác giả lưu ý bằng chứng về nẹp còn hạn chế, và phẫu thuật luôn khởi động lại quá trình tập luyện[3].
Về vật liệu che phủ: ghép da mỏng liền nhanh ở nơi cho da nhưng có nguy cơ co kéo lại cao hơn vì thiếu lớp bì, nên với sẹo co kéo, các vạt da tại chỗ thường được ưu tiên hơn[3][4].
Khi nào cần khám sớm?
Hãy đi khám ngay chuyên khoa mắt hoặc cấp cứu nếu sẹo quanh mắt kéo mi làm mắt không nhắm kín, kèm đỏ, cộm, đau hoặc nhìn mờ: giác mạc cần được bảo vệ sớm.
Hãy đi khám sớm khi sẹo làm hạn chế cử động khớp, làm há miệng khó, kéo lệch khóe miệng hoặc cánh mũi, hoặc khi vùng sẹo nứt, loét, chảy dịch lặp đi lặp lại. Ở trẻ đang lớn, sẹo co kéo cần được theo dõi vì vùng sẹo không lớn theo cơ thể.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; sẹo vùng mặt, cổ, kể cả sẹo co kéo cần vạt da nhỏ, được xử trí tại phòng khám. Sẹo ở thân mình, tay chân và các trường hợp cần vạt da lớn hoặc ghép da diện rộng được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.
Tài liệu tham khảo
- Lemperle G. Prevention of hyper- and hypotrophic scars through surgical incisions in the direction of the main folding lines of the skin. Plast Aesthet Res. 2020;7:40. doi:10.20517/2347-9264.2020.14
- Ogawa R. Ideal wound closure methods for minimizing scarring after surgery. Trong: Téot L, Mustoe TA, Middelkoop E, Gauglitz GG, chủ biên. Textbook on Scar Management. Cham: Springer; 2020. Chương 21, tr. 185-191. doi:10.1007/978-3-030-44766-3_21
- Masanovic MG, Téot L. Scar contractures. Trong: Téot L, Mustoe TA, Middelkoop E, Gauglitz GG, chủ biên. Textbook on Scar Management. Cham: Springer; 2020. Chương 13, tr. 117-122. doi:10.1007/978-3-030-44766-3_13
- Ogawa R. Keloid and hypertrophic scars are the result of chronic inflammation in the reticular dermis. Int J Mol Sci. 2017;18(3):606. doi:10.3390/ijms18030606
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm