Sụn tự thân trong tạo hình mũi: lấy từ đâu và lấy được bao nhiêu?
Sụn vách ngăn, sụn vành tai và sụn sườn có hình dạng, độ cứng và lượng lấy được khác nhau. Bài viết giải thích vì sao bác sĩ chọn nguồn này thay vì nguồn kia, và cái giá đi kèm mỗi lựa chọn.
Khi bàn về nâng mũi bằng sụn tự thân, câu hỏi thường dừng ở “có dùng sụn thật không”. Nhưng câu hỏi có ảnh hưởng tới kết quả nhiều hơn là: lấy sụn ở đâu, lấy được bao nhiêu, và đổi lại điều gì. Bài viết tóm tắt những gì y văn truy cập mở mô tả về ba nguồn sụn thường dùng.
Ba nguồn, ba đặc điểm khác nhau
Sụn vách ngăn phẳng và thẳng nên dễ gọt thành các mảnh ghép nhỏ. Nhưng lượng lấy được bị giới hạn bởi một yêu cầu kỹ thuật: phần khung hình chữ L dọc theo sống mũi và bờ trước phải được giữ lại với bề rộng tối thiểu khoảng 1 cm, nếu không sống mũi và đầu mũi có thể mất chỗ dựa[1].
Sụn vành tai cong tự nhiên và mềm hơn, phù hợp với những chỗ cần độ cong. Sụn sườn dài và dày nhất nên chịu lực tốt hơn cả, thường lấy từ xương sườn 5 đến 11 với sườn 7 được dùng nhiều nhất[1]. Đoạn lấy ra thường dài khoảng 4,5–6,5 cm, và dài hơn trong các ca mổ lại[2].
Mảnh ghép nhỏ hơn bạn nghĩ
Một điều ít được nói tới là các mảnh ghép trong tạo hình mũi khá nhỏ. Trong một bài tổng quan kỹ thuật, mảnh chống trụ mũi thường dài khoảng 14–16 mm, rộng 2–3 mm và dày 1–2 mm; mảnh kéo dài phần đuôi vách ngăn dài khoảng 18–20 mm, rộng khoảng 10 mm; mảnh đệm hai bên sống mũi dài khoảng 25 mm, rộng 3–5 mm[1]. Vì vậy một mũi cần nhiều mảnh ghép có thể vượt quá lượng sụn vách ngăn sẵn có, ngay cả ở người chưa từng mổ.
Lấy sụn sườn đổi lại điều gì
Lấy sụn sườn cần thêm một vùng mổ ở ngực. Trong một bài mô tả kỹ thuật dành cho bệnh nhân châu Á, đường mổ ngực được ghi khoảng 2–3 cm ở phần phương pháp, trong khi phần bàn luận nêu khoảng rộng hơn tùy độ dày thành ngực và kinh nghiệm phẫu thuật viên[2]. Cùng bài đề nghị chụp cắt lớp thành ngực cho người trên 40 tuổi vì sụn có thể đã vôi hóa, nhưng chính tác giả ghi nhận vẫn gặp vôi hóa ở người trẻ hơn[2].
Sụn sườn cũng có xu hướng cong lại sau khi gọt. Một cách xử lý được mô tả là để mảnh sụn đã gọt khoảng 15 phút cho hiện tượng cong bộc lộ rồi mới đặt vào mũi[2]. Trong một phân tích gộp lớn về vật liệu nâng sống mũi, tỷ lệ cong mảnh ghép được báo cao nhất ở nhóm sụn sườn tự thân, khoảng 7,1% — con số này được chia chung với một nhóm ghép phối hợp khác — và thấp nhất ở sụn vành tai, 1,4%[3]. Cùng phân tích đó cho thấy biến chứng tại chỗ lấy sụn lại được báo cao nhất ở nhóm sụn vành tai, nhưng khoảng tin cậy rộng tới mức khó diễn giải cho một người cụ thể.
Các tác giả của phân tích gộp này tự nêu rằng kết cục “tỷ lệ thành công” trong nghiên cứu của họ có sai lệch công bố, nghĩa là các con số về thành công cần được đọc dè dặt hơn các con số về biến chứng[3].
Phần phụ thuộc vào người bệnh
Một đoàn hệ hồi cứu trên 447 người châu Á mổ mũi bằng sụn sườn tự thân tại hai trung tâm ở Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ có biến cố bất lợi khoảng 24–27% tùy nhóm, trên những người có tuổi trung bình khoảng 25[4]. Khi phân tích yếu tố liên quan tới biến chứng trong tháng đầu, các yếu tố đứng đầu đều thuộc về sinh hoạt sau mổ: va chạm vào mũi, viêm nang lông vùng mổ, tiếp xúc động vật, đồ ăn cay và thuốc lá[4]. Chính các tác giả nêu mô hình dự báo của họ bỏ sót phần lớn ca sẽ có biến chứng, nên đây không phải công cụ tiên đoán.
Một tài liệu khác đề nghị ngưng thuốc lá ít nhất hai tuần trước mổ và một đến hai tháng sau mổ[2]. Đây là phần người bệnh chủ động được.
Khi nào cần khám sớm?
Hãy liên hệ bác sĩ phẫu thuật khi mũi sưng đau tăng dần sau giai đoạn đầu, đỏ lan rộng, chảy dịch đục, da vùng sống mũi hoặc đầu mũi bóng căng và đổi màu, hoặc khi bạn bị sốt.
Với vùng ngực đã lấy sụn, hãy báo ngay nếu khó thở, đau ngực tăng lên khi hít sâu, hoặc vết mổ sưng nề và chảy dịch. Mũi lệch rõ hơn theo thời gian, hoặc sờ thấy cạnh mảnh ghép gồ lên dưới da, cũng là lý do nên khám lại.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; các phẫu thuật khác và trường hợp cần gây mê được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám. Các trường hợp cần lấy sụn sườn được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp.
Tài liệu tham khảo
- Zhao A, Brownlee B, Park S. Strategic grafting in rhinoplasty. Plast Aesthet Res. 2025;12:35. doi:10.20517/2347-9264.2025.61
- Rajbhandari S, Kao CH. Costal cartilage graft in Asian rhinoplasty: surgical techniques. Plast Aesthet Res. 2019;6:8. doi:10.20517/2347-9264.2018.86
- Shafik AG, Mohamed MN, Mady OM, Fatallah ES, Tawfik GM, Mahmoud MH, et al. Outcomes and complication rates of different materials used for nasal dorsal augmentation in septorhinoplasty: a systematic review and meta-analysis. Egypt J Otolaryngol. 2025;41:49. doi:10.1186/s43163-024-00746-7
- Niyazi A, Tuohuti T, Nannan X, Shalimujiang D, Zhao Y. Development of a prognostic prediction model and visualization system for autologous costal cartilage rhinoplasty: an automated machine learning approach. Front Surg. 2025;12:1594514. doi:10.3389/fsurg.2025.1594514
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm