Thu nhỏ ngực: cần cân nhắc những gì trước khi quyết định?

Thu nhỏ ngực giúp giảm thể tích và tạo lại hình dáng bầu ngực. Bài viết nêu những điều nên cân nhắc về sẹo, cảm giác, cho con bú, nguy cơ và dấu hiệu cần khám sớm.

Ngực quá lớn không chỉ là chuyện hình dáng. Nhiều người thấy nặng nề, đau mỏi cổ vai lưng, hằn rãnh dây áo, hăm da dưới nếp vú và khó vận động. Thu nhỏ ngực là phẫu thuật lớn, cần chuẩn bị kỹ; bài viết nêu những điều nên cân nhắc trước khi quyết định.

Phẫu thuật làm gì?

Thu nhỏ ngực lấy bớt mô tuyến, mỡ và da thừa, tạo lại hình dáng bầu ngực và đưa quầng – núm vú về vị trí phù hợp. Để giữ máu nuôi cho quầng – núm vú, phần mô mang quầng – núm vú thường được giữ lại trên một cuống mô. Có nhiều kiểu cuống và nhiều kiểu vẽ đường mổ; kiểu được chọn tùy kích thước ngực, độ sa trễ và sức khỏe của từng người.

Đường sẹo thường nằm quanh quầng vú, có thể kéo dọc xuống nếp dưới vú và có khi thêm một đường ngang theo nếp dưới vú. Vị trí và chiều dài sẹo dự kiến được trao đổi trước khi quyết định.

Để hình dung mức độ biến chứng, một chuỗi 67 vú ở 35 người tại một bệnh viện ở Thụy Sĩ, thực hiện bằng một kiểu đường mổ (mô hình omega), ghi nhận biến chứng nhỏ ở khoảng 15% số vú, chủ yếu là hở vết mổ và nhiễm trùng vết mổ, và không có biến chứng lớn hay hoại tử quầng – núm vú[1]. Đây là nghiên cứu hồi cứu của một phẫu thuật viên với cỡ mẫu nhỏ, nên con số chỉ mang tính tham khảo. Tổng hợp nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ biến chứng chung được báo cáo rất khác nhau, từ mức thấp đến hơn một nửa số ca[2].

Những điều nên biết trước khi quyết định

  • Sẹo: dài hơn nhiều loại phẫu thuật khác, và có thể chậm lành ở chỗ giao nhau của các đường mổ.
  • Cảm giác: cảm giác ở núm vú và da vùng ngực có thể thay đổi hoặc mất.
  • Cho con bú: khả năng cho con bú sau mổ có thể bị ảnh hưởng. Một tổng quan hệ thống 51 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cho con bú thành công khác nhau rất nhiều giữa các nghiên cứu, và có xu hướng cao hơn khi kỹ thuật giữ được cột mô tuyến nối quầng vú với thành ngực; tuy nhiên chỉ 6 trong 51 nghiên cứu có nguy cơ sai lệch ở mức thấp đến trung bình, nên bằng chứng còn hạn chế[3]. Nếu bạn còn dự định mang thai, hãy nói với bác sĩ để chọn thời điểm và phương án phù hợp.
  • Hình dáng theo thời gian: ngực có thể sa trễ trở lại.

Nguy cơ và chuẩn bị

Như mọi phẫu thuật, thu nhỏ ngực có nguy cơ chảy máu, tụ máu, nhiễm trùng, sẹo xấu, hai bên không cân đối và các nguy cơ liên quan đến gây mê. Hoại tử mỡ có thể tạo nốt cứng trong ngực. Hiếm gặp hơn là thiếu máu nuôi quầng – núm vú, có thể gây hoại tử một phần hoặc toàn bộ quầng – núm vú. Huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi hiếm gặp nhưng nghiêm trọng.

Hút thuốc lá liên quan đến nguy cơ hở vết mổ cao hơn[2]. Nếu bạn hút thuốc, hãy trao đổi với bác sĩ về việc ngừng thuốc trước mổ.

Trước mổ, bác sĩ hỏi tiền sử bản thân và gia đình về bệnh lý tuyến vú, khám vú và đề nghị siêu âm hoặc chụp nhũ ảnh tùy độ tuổi và yếu tố nguy cơ. Dự định mang thai, mức độ ổn định cân nặng, sức khỏe tổng quát và các thuốc đang dùng cũng được đánh giá.

Sau mổ, ngực thường căng, đau và sưng, rõ nhất trong một đến hai tuần đầu; hình dáng ổn định dần trong vài tháng. Bạn sẽ được hướng dẫn về áo ngực hỗ trợ, cách vận động tay và thời điểm trở lại sinh hoạt, làm việc.

Khi nào cần khám sớm?

Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu gần nhất nếu có một bên ngực sưng căng, đau nhiều và to lên nhanh, khó thở, đau ngực đột ngột khác với cảm giác căng tức vùng mổ, ho ra máu, sưng đau một bên bắp chân, hoặc tim đập nhanh kèm choáng váng. Nhờ người nhà báo cho bác sĩ phẫu thuật, nhưng đừng chờ liên lạc được rồi mới đi.

Hãy gọi ngay cho bác sĩ phẫu thuật khi:

  • Một bên ngực sưng hơn hẳn bên kia nhưng không căng đau nhiều
  • Quầng – núm vú chuyển màu trắng bệch, tím sẫm hoặc đen
  • Vết mổ hở, chảy dịch đục hoặc có mùi; sốt, ớn lạnh
  • Đau tăng dần dù đã dùng thuốc theo toa

Nơi thực hiện

Tại phòng khám, BS An khám và tư vấn. Phẫu thuật tạo hình ngực được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.

Tài liệu tham khảo

  1. Viscardi JA, Oranges CM, Schaefer DJ, Kalbermatten DF. Reduction mammoplasty: a ten-year retrospective review of the omega resection pattern technique. J Clin Med. 2021;10(19):4418. doi:10.3390/jcm10194418
  2. Zhang MX, Chen CY, Fang QQ, Xu JH, Wang XF, Shi BH, et al. Risk factors for complications after reduction mammoplasty: a meta-analysis. PLoS ONE. 2016;11(12):e0167746. doi:10.1371/journal.pone.0167746
  3. Kraut RY, Brown E, Korownyk C, Katz LS, Vandermeer B, Babenko O, et al. The impact of breast reduction surgery on breastfeeding: systematic review of observational studies. PLoS ONE. 2017;12(10):e0186591. doi:10.1371/journal.pone.0186591

Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm

Trang chuyên môn: Tạo hình ngực

Đặt lịch khám với BS An

Phòng khám hoạt động ngoài giờ hành chính và theo lịch hẹn.

Đặt lịch khám