Vách ngăn lệch: khi nào thì cần chỉnh?

Vách ngăn trông lệch trên hình ảnh không đồng nghĩa với nghẹt mũi, và không tự nó là chỉ định mổ. Bài viết giải thích các cách đánh giá, điều mổ cải thiện được và điều chưa chắc cải thiện.

Rất nhiều người được nói rằng mình “lệch vách ngăn” sau một lần khám hoặc một phim chụp. Câu hỏi thực sự không phải vách ngăn có lệch hay không, mà là sự lệch đó có đang gây ra vấn đề cho chính người đó hay không. Hai điều này không trùng nhau như người ta tưởng.

Hình ảnh và triệu chứng không luôn đi cùng nhau

Hai khối xếp trên dưới: khối trên là các phép đo khách quan, khối dưới là điều người bệnh khai, nối nhau bằng một đường nét đứt có dấu hỏi.
Hai cách đánh giá nghẹt mũi không luôn đi cùng nhau: hình ảnh và số đo có thể bình thường trong khi người bệnh vẫn nghẹt, và ngược lại. Sơ đồ minh họa đơn giản của website, không theo tỷ lệ và không thay cho thăm khám.

Một tổng quan hệ thống về các công cụ chẩn đoán lệch vách ngăn kết luận rằng không có tiêu chuẩn vàng nào cho chẩn đoán này[1]. Trong số liệu được tổng hợp ở đó, 30 trong 77 người có vách ngăn lệch đáng kể khai nghẹt mũi; nhưng 32 trong 89 người có kết quả soi mũi bình thường cũng khai nghẹt mũi[1]. Nói cách khác, một vách ngăn trông lệch không đồng nghĩa người đó đang nghẹt, và một vách ngăn trông bình thường không loại trừ nghẹt.

Các phép đo khách quan cũng không giải quyết được chuyện này. Cùng tổng quan ghi nhận đo lưu lượng khí hít vào đỉnh có độ nhạy khoảng 79% và độ đặc hiệu 77% trong phát hiện lệch vách ngăn, còn đo khí áp mũi có tỷ lệ phát hiện 22% so với tỷ lệ dương tính giả 24%, tức gần như không phân biệt được[1]. Chính các tác giả nêu rằng điểm triệu chứng chủ quan tương quan kém với các phép đo khách quan[1].

Mổ cải thiện được điều gì

Một tổng quan hệ thống chỉ gồm thử nghiệm ngẫu nhiên, gộp 3 nghiên cứu với 721 người tham gia, so sánh mổ vách ngăn với điều trị không mổ[2]. Điểm nghẹt mũi do người bệnh tự khai cải thiện rõ ở nhóm mổ tại cả ba mốc 3, 6 và 12 tháng, và thang chất lượng sống mũi xoang cũng vậy[2].

Nhưng cùng phân tích đó cho thấy lưu lượng khí hít vào đỉnh không cải thiện ổn định: khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mốc 3 tháng và 12 tháng, chỉ có ý nghĩa ở mốc 6 tháng[2]. Đây là điểm đáng chú ý nhất của bộ bằng chứng: cái người bệnh cảm nhận cải thiện rõ hơn cái máy đo được.

Các tác giả xếp mức độ tin cậy của bằng chứng ở mức thấp đến trung bình, và nêu nhiều hạn chế: chỉ có ba thử nghiệm, nhóm “không mổ” rất không đồng nhất, phần lớn thử nghiệm nhãn mở nên các kết cục chủ quan có thể bị ảnh hưởng, và chưa có dữ liệu về độ bền quá một đến hai năm[2].

Một nghiên cứu tiến cứu trên 32 người mổ vách ngăn kèm thu nhỏ cuốn mũi dưới cho thấy điều tương tự theo hướng ngược lại: lưu lượng khí hít vào đỉnh tăng rõ sau 3 tháng, nhưng mức tăng đó không tương quan với mức giảm cảm giác buồn ngủ ban ngày[3]. Cùng nghiên cứu ghi nhận điểm buồn ngủ ban ngày giảm và tỷ lệ nguy cơ cao theo bộ câu hỏi sàng lọc rối loạn hô hấp khi ngủ giảm từ 50% xuống 25%, trên một mẫu nhỏ không có nhóm chứng[3].

Điểm số không thay cho thăm khám

Bộ câu hỏi nghẹt mũi thường được dùng để lượng hóa triệu chứng. Trong một nghiên cứu thẩm định bản dịch của bộ câu hỏi này, điểm trung bình ở người bệnh là 58,3 so với 14,6 ở người khỏe, tức thang đo phân biệt được hai nhóm[4]. Điểm trung vị giảm từ 60 trước mổ xuống 20 ở 1 tháng và 15 ở 3 tháng, rồi hơi lùi lại còn 20 ở 12 tháng[4].

Điều quan trọng hơn là điều chính các tác giả nêu: thang đo được thẩm định cho nhóm người bệnh, không dùng để tiên đoán kết quả cho từng cá nhân[4]. Một con số không thể thay thế việc khám mũi, hỏi bệnh sử và xem người đó nghẹt vào lúc nào, một bên hay hai bên, có kèm viêm mũi dị ứng hay không.

Khi nào cần khám sớm?

Hãy đi khám khi nghẹt mũi kéo dài ảnh hưởng tới giấc ngủ, sinh hoạt hoặc gắng sức, khi chỉ nghẹt một bên và ngày càng rõ, hoặc khi kèm chảy máu mũi tái diễn, chảy mũi mủ, đau vùng mặt hay giảm ngửi.

Trẻ nhỏ thở bằng miệng khi ngủ, ngáy to hoặc có cơn ngừng thở khi ngủ cũng cần được khám, vì nguyên nhân thường không chỉ ở vách ngăn.

Nơi thực hiện

Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; chỉnh hình vách ngăn khi không cần lấy sụn sườn được thực hiện tại phòng khám. Các trường hợp cần lấy sụn sườn hoặc cần gây mê được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám.

Tài liệu tham khảo

  1. Aziz T, Biron VL, Ansari K, et al. Measurement tools for the diagnosis of nasal septal deviation: a systematic review. J Otolaryngol Head Neck Surg. 2014;43:11. doi:10.1186/1916-0216-43-11
  2. Abd Elhadi U, Safia A, Masalha M. Septoplasty versus non-surgical treatment for deviated nasal septum: a systematic review and meta-analysis. J Clin Med. 2026;15(10):3930. doi:10.3390/jcm15103930
  3. Sousa FA, Correia JT, Rios M, Ferreira MG, Magalhães M, Santos M. Beyond the airway: the impact of septoplasty and turbinate reduction on somnolence and sleep disordered breathing risk—a prospective study. Front Surg. 2026;13:1828614. doi:10.3389/fsurg.2026.1828614
  4. Spiekermann C, Savvas E, Rudack C, et al. Adaption and validation of the nasal obstruction symptom evaluation scale in German language (D-NOSE). Health Qual Life Outcomes. 2018;16:172. doi:10.1186/s12955-018-1004-x

Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm

Trang chuyên môn: Tạo hình mũi

Đặt lịch khám với BS An

Phòng khám hoạt động ngoài giờ hành chính và theo lịch hẹn.

Đặt lịch khám