Lão hóa khuôn mặt diễn ra ở những tầng nào, và bác sĩ nhìn gì khi thăm khám?
Khuôn mặt già đi không chỉ ở da. Bài viết giải thích các lớp mô của khuôn mặt, mỗi lớp thay đổi ra sao theo tuổi, và vì sao bác sĩ đánh giá từng vùng trước khi bàn đến cách điều trị.
Khi đến khám về trẻ hóa khuôn mặt, nhiều người mong được nghe ngay “nên căng da hay nên cấy mỡ”. Nhưng câu trả lời phụ thuộc vào việc vùng nào đang thay đổi và thay đổi ở lớp mô nào. Bài viết giải thích cách nhìn này.
Khuôn mặt có những lớp nào?
Mô mềm của khuôn mặt thường được mô tả như các lớp xếp chồng từ ngoài vào trong: da, mỡ dưới da, lớp cân cơ nông (thường gọi tắt là SMAS), rồi một lớp mô lỏng lẻo cùng các dây chằng giữ mô, và sau cùng là nền xương[3]. Dây chằng giữ mô là những dải mô liên kết nối xương với da, giữ cho các lớp ở đúng vị trí khi cơ mặt cử động[2].
Mỗi lớp già đi theo cách riêng
Theo một tổng quan năm 2025 về dây chằng giữ mô, tuổi tác làm các dây chằng này yếu và giãn ra, kéo theo sự sa xuống của các khối mỡ, da chùng, vùng hàm chảy xệ, rãnh mũi má sâu hơn và các dải cơ nổi ở cổ[2]. Các rãnh ở mí dưới và gò má cũng gắn với dây chằng ở chỗ chuyển tiếp giữa mí dưới và má[2].
Nền xương cũng thay đổi. Một bài tổng quan năm 2012 tập hợp các nghiên cứu chụp cắt lớp cho thấy hốc mắt rộng ra theo tuổi, nhất là ở phần trên trong và phần dưới ngoài; góc của xương hàm trên giảm khoảng 10 độ giữa nhóm dưới 30 tuổi và nhóm trên 60 tuổi; ở xương hàm dưới, góc hàm mở ra trong khi chiều cao và chiều dài thân xương giảm[1]. Các tác giả cho rằng rãnh lệ, rãnh mũi má rõ hơn và vùng hàm chảy xệ một phần là hậu quả của việc nền xương lùi lại, kéo theo điểm bám của dây chằng và cơ[1]. Đây là tổng quan mô tả, nhưng nó giải thích vì sao chỉ kéo căng da không giải quyết được gốc vấn đề.
Lớp mỡ và thể tích thay đổi khác nhau ở từng vùng: có vùng mỡ trượt xuống, có vùng mất thể tích và hõm lại.
Bác sĩ nhìn gì ở từng vùng?
Các điểm được đánh giá, đi từ trên xuống:
- Trán và cung mày: nếp nhăn ngang, mức độ sa xuống của trán và vị trí cung mày. Đuôi mày sa trễ làm mí trên trông nặng, dễ bị nhầm với sụp mi, nên cần phân biệt trước khi tính đến phẫu thuật mí.
- Thái dương: mô mềm chùng kéo đuôi mày và góc mắt ngoài xuống; giảm thể tích làm thái dương hõm.
- Quanh mắt và tầng mặt giữa: da mí chùng, bọng mỡ, rãnh lệ và chỗ chuyển tiếp giữa mí dưới với má; mô mềm vùng gò má trượt xuống làm rãnh lệ và rãnh mũi má rõ hơn.
- Má và rãnh mũi má: độ đầy đặn và mức chảy xệ của má; độ sâu của rãnh, thường liên quan đến mô phía trên trượt xuống.
- Đường viền hàm: vùng hàm chảy xệ làm đường viền kém rõ. Dây chằng hàm dưới được xem là bờ trước của phần mô chảy xệ này[3].
- Cổ: da và cơ bám da cổ chùng, góc cổ – hàm tù đi. Cơ bám da cổ dính với cả da lẫn lớp cân bên dưới, nên xử lý lớp cơ này được xem là quan trọng khi tạo lại đường nét cổ[3].
Bác sĩ cũng xem chất lượng da, bệnh nền, thuốc đang dùng, hút thuốc lá, các can thiệp trước đây (phẫu thuật, căng chỉ, chất làm đầy) và mức thay đổi bạn mong muốn.
Vì sao cách nhìn này quyết định hướng điều trị?
Vùng chủ yếu sa xuống cần được nâng đỡ ở đúng tầng mô; vùng chủ yếu mất thể tích có thể cần bù thể tích, khi có chỉ định; nhiều người cần phối hợp. Phẫu thuật không thay đổi chất lượng da hay các nếp nhăn nhỏ, không làm ngừng quá trình lão hóa, và kỹ thuật nào cũng có sẹo, sưng, bầm và thời gian hồi phục. Không có một kỹ thuật phù hợp cho mọi người.
Khi nào cần khám sớm?
Hãy gọi 115 hoặc đến ngay khoa cấp cứu nếu một bên mặt đột ngột xệ xuống hoặc yếu, kèm nói khó, yếu tay chân hoặc nhìn đôi: đó có thể là dấu hiệu đột quỵ, không phải vấn đề thẩm mỹ.
Hãy đi khám sớm khi có khối u mới ở mặt hoặc cổ, hoặc một bên mặt thay đổi nhanh trong vài tuần.
Nơi thực hiện
Tại phòng khám, các kỹ thuật chỉ thực hiện dưới gây tê, theo danh mục được Sở Y tế phê duyệt; các phẫu thuật khác và trường hợp cần gây mê được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp. BS An sẽ trao đổi cụ thể khi thăm khám. Căng da mặt Deep Plane và căng thái dương – tầng mặt giữa nội soi được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép phù hợp.
Tài liệu tham khảo
- Mendelson B, Wong CH. Changes in the facial skeleton with aging: implications and clinical applications in facial rejuvenation. Aesthetic Plast Surg. 2012;36:753-760. doi:10.1007/s00266-012-9904-3
- Tarallo M, Cilluffo M, Papa F, Fanelli B. Retaining ligaments of the face: still important in modern approach in mid-face and neck lift?. J Pers Med. 2025;15(12):582. doi:10.3390/jpm15120582
- Boyd CJ, Ceradini DJ. Current trends in facelift and necklift procedures. J Clin Med. 2025;14(12):4273. doi:10.3390/jcm14124273
Các tài liệu trên là công bố của nhóm tác giả khác, truy cập mở, nêu để bạn đọc thêm. Bài viết chỉ tóm tắt điều các tác giả mô tả, kèm giới hạn của từng nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm